Công tác quản lý, phân bổ và sử dụng ngân sách nhà nước cho hoạt động khuyến công đòi hỏi bảo đảm tính công khai, minh bạch, kịp thời và phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Nhằm tạo thêm nguồn lực hỗ trợ phát triển công nghiệp nông thôn, ngày 24/4/2026, Hội đồng nhân dân tỉnh Gia Lai đã thông qua Nghị quyết số 15/2026/NQ-HĐND quy định mức chi các hoạt động khuyến công trên địa bàn tỉnh.
Nghị quyết là cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh, cấp xã và các đơn vị liên quan triển khai, quản lý, sử dụng kinh phí khuyến công; đồng thời tạo điều kiện để các cơ sở công nghiệp nông thôn, hợp tác xã, hộ kinh doanh tiếp cận nguồn lực hỗ trợ, đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất, kinh doanh trong giai đoạn mới.
Hành lang pháp lý cho quản lý, sử dụng kinh phí khuyến công
Nghị quyết số 15/2026/NQ-HĐND quy định cụ thể mức chi cho các hoạt động khuyến công trên địa bàn tỉnh Gia Lai, tạo cơ sở thống nhất cho việc lập dự toán, quản lý và sử dụng ngân sách phục vụ hoạt động khuyến công tại địa phương.
Trong bối cảnh tổ chức chính quyền địa phương theo hai cấp tỉnh và cấp xã, việc triển khai đồng bộ các quy định về khuyến công đặt ra yêu cầu tăng cường phối hợp giữa cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, chính quyền cấp xã và các cơ quan, đơn vị liên quan nhằm bảo đảm nguồn kinh phí được sử dụng đúng mục đích, đúng đối tượng và phát huy hiệu quả.
Nghị quyết số 15/2026/NQ-HĐND có hiệu lực thi hành kể từ ngày 04/5/2026. Theo đó, việc lập dự toán, đề xuất, phê duyệt và sử dụng kinh phí đối với các hoạt động khuyến công trên địa bàn tỉnh được thực hiện theo các nội dung và mức chi quy định tại Nghị quyết.
Quy định cụ thể các mức hỗ trợ
Để các cơ sở công nghiệp nông thôn, hợp tác xã và hộ kinh doanh có cơ sở xây dựng kế hoạch đầu tư, tổ chức sản xuất và tiếp cận chính sách, Nghị quyết quy định cụ thể các mức hỗ trợ tài chính từ nguồn ngân sách nhà nước đối với nhiều nội dung.
Đối với hoạt động ứng dụng công nghệ và hiện đại hóa sản xuất, các cơ sở đầu tư, ứng dụng máy móc, thiết bị tiên tiến vào dây chuyền sản xuất được hỗ trợ tối đa 50% chi phí, nhưng không quá 200 triệu đồng/cơ sở. Đối với xây dựng mô hình trình diễn nhằm phổ biến công nghệ mới, mức hỗ trợ tối đa bằng 30% chi phí đầu tư và không quá 700 triệu đồng/mô hình.
Đối với sản xuất bền vững và bảo vệ môi trường, các cơ sở áp dụng giải pháp, mô hình sản xuất sạch hơn nhằm sử dụng hiệu quả nguyên liệu, giảm thiểu chất thải và hạn chế tác động đến môi trường được hỗ trợ tối đa 30% chi phí thực hiện, với mức hỗ trợ không quá 350 triệu đồng/mô hình.
Đối với hoạt động khởi nghiệp và nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp, tại các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, chi phí hoàn thiện kế hoạch kinh doanh và thực hiện thủ tục thành lập doanh nghiệp được hỗ trợ không quá 07 triệu đồng/doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, đối với chi phí thuê chuyên gia tư vấn trong các lĩnh vực như tài chính, kế toán, lập dự án đầu tư, mức hỗ trợ tối đa bằng 50% chi phí hợp đồng và không quá 25 triệu đồng/cơ sở. Chính sách này góp phần hỗ trợ các cơ sở từng bước hoàn thiện năng lực quản trị, xây dựng phương án đầu tư và tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hiệu quả hơn.
Đối với phát triển và bảo hộ thương hiệu, chi phí xây dựng và đăng ký bảo hộ nhãn hiệu được ngân sách hỗ trợ tối đa không quá 25 triệu đồng/nhãn hiệu, qua đó hỗ trợ các cơ sở xây dựng thương hiệu, nâng cao giá trị sản phẩm và khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Đối với hoạt động bình chọn sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu, kinh phí tổ chức bình chọn được bố trí không quá 140 triệu đồng/lần đối với cấp tỉnh và không quá 35 triệu đồng/lần đối với cấp xã. Sản phẩm đạt giải cấp tỉnh được thưởng không quá 3,5 triệu đồng/sản phẩm; sản phẩm đạt giải cấp xã được thưởng không quá 01 triệu đồng/sản phẩm.
Việc quy định cụ thể các mức hỗ trợ giúp các cơ sở công nghiệp nông thôn chủ động hơn trong xây dựng phương án sản xuất, đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển thương hiệu và nâng cao năng lực cạnh tranh, đồng thời tạo thuận lợi cho các cơ quan quản lý trong quá trình lập, phân bổ và sử dụng kinh phí khuyến công.
Quy định tỷ lệ chi cho công tác quản lý kinh phí khuyến công
Bên cạnh các mức hỗ trợ trực tiếp cho cơ sở công nghiệp nông thôn, Nghị quyết số 15/2026/NQ-HĐND cũng quy định tỷ lệ chi cho công tác quản lý, kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện các chương trình, đề án khuyến công.
Theo đó, cơ quan quản lý kinh phí khuyến công địa phương cấp tỉnh, cấp xã được sử dụng tối đa 1,5% tổng kinh phí khuyến công được giao hằng năm để phục vụ công tác thẩm định, kiểm tra, giám sát và nghiệm thu các chương trình, đề án.
Khi sử dụng nguồn kinh phí này để thuê khoán chuyên gia tư vấn hoặc lao động bên ngoài, các cơ quan quản lý thực hiện theo quy định tại Nghị định số 173/2025/NĐ-CP và các quy định pháp luật có liên quan; không ký hợp đồng thực hiện công việc chuyên môn, nghiệp vụ với cán bộ, công chức, viên chức thuộc chính cơ quan, đơn vị mình.
Đối với đơn vị trực tiếp triển khai thực hiện đề án, mức chi cho công tác quản lý, chỉ đạo và tổ chức thực hiện được quy định tối đa bằng 3% tổng dự toán của đề án.
Các quy định này góp phần xác định rõ nguồn lực dành cho hoạt động quản lý, theo dõi và tổ chức thực hiện, qua đó tăng cường trách nhiệm của cơ quan quản lý và đơn vị triển khai trong quá trình sử dụng kinh phí khuyến công.
Bảo đảm công khai, minh bạch trong quản lý và quyết toán kinh phí
Nguồn kinh phí khuyến công từ ngân sách nhà nước có vai trò hỗ trợ, khuyến khích các cơ sở công nghiệp nông thôn huy động thêm nguồn lực để đầu tư phát triển sản xuất. Vì vậy, việc quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí phải bảo đảm chặt chẽ, công khai, minh bạch và tuân thủ các quy định của pháp luật về ngân sách, tài chính, kế toán.
Các đơn vị thụ hưởng và cơ quan quản lý có trách nhiệm phản ánh đầy đủ, kịp thời các khoản chi, giải ngân qua hệ thống sổ sách kế toán; đồng thời bảo đảm hồ sơ, hóa đơn, chứng từ thanh toán và biên bản nghiệm thu khối lượng công việc thực tế theo quy định hiện hành.
Việc thực hiện đầy đủ các quy định về hồ sơ, chứng từ và quyết toán không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng nguồn kinh phí khuyến công mà còn tạo thuận lợi cho công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, bảo đảm nguồn lực hỗ trợ được sử dụng đúng mục tiêu và phát huy hiệu quả.
Với việc quy định cụ thể các mức chi cho hoạt động khuyến công, Nghị quyết số 15/2026/NQ-HĐND tạo cơ sở để tỉnh Gia Lai triển khai thống nhất chính sách hỗ trợ công nghiệp nông thôn, tập trung vào các nội dung như đổi mới máy móc, thiết bị, ứng dụng công nghệ, sản xuất sạch hơn, nâng cao năng lực quản trị và xây dựng thương hiệu. Qua đó, góp phần hỗ trợ các cơ sở công nghiệp nông thôn nâng cao năng lực sản xuất, chất lượng sản phẩm, từng bước phát triển theo hướng hiệu quả và bền vững.
Hoa Đặng