Sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 cảu Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn (nay là Nghị định số 52/2018/NĐ-CP ngày 12/4/2018 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn), và các cơ chế chính sách phát triển công nghiệp nông thôn của Trung ương được ban hành (đặc biệt là Nghị định số 45/2012/NĐ-CP ngày 21 tháng 5 năm 2012 về khuyến công); tỉnh Thanh Hóa đã ban hành các cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề nông thôn.

Sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 cảu Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn (nay là Nghị định số 52/2018/NĐ-CP ngày 12/4/2018 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn), và các cơ chế chính sách phát triển công nghiệp nông thôn của Trung ương được ban hành (đặc biệt là Nghị định số 45/2012/NĐ-CP ngày 21 tháng 5 năm 2012 về khuyến công); tỉnh Thanh Hóa đã ban hành các cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề nông thôn. Một số chính sách cụ thể như: Nghị quyết số 48/2006/NQ-HĐND ngày 28 tháng 7 năm 2006 của Hội đồng nhân dân tỉnh về cơ chế chính sách khuyến khích phát triển tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa; Quyết định số 2541/2008/QĐ-UBND ngày 19 tháng 8 năm 2008 của UBND tỉnh Thanh Hóa về việc sửa dổi Quyết định số 2409/2006/QĐ-UBND ngày 05 tháng 9 năm 2006 của UBND tỉnh về cơ chế chính sách khuyến khích phát triển tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề trên địa bàn tỉnh Thanh hóa; Quyết định số 832/2017/QĐ-UBND ngày 21/3/2017 của UBND tỉnh Thanh hóa ban hành quy định về việc thực hiện chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại tỉnh Thanh Hóa theo Nghị quyết số 29/2016/NQ-HĐND ngày 8 tháng 12 năm 2016 của Hội đồng nhân dân tỉnh.

Làng nghề rèn cơ khí truyền thống ở xã Tiến Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa được lưu truyền lâu đời.
Các cơ chế, chính sách trên tập trung vào các nội dung hỗ trợ chủ yếu là: Hỗ trợ về đất đai và xây dựng kết cấu hạ tầng cụm tiểu thủ công nghiệp, hỗ trợ ưu đãi đầu tư, hỗ trợ khuyến khích thu hút lao động, hỗ trợ về đào tạo, hỗ trợ về khoa học công nghệ, hỗ trợ về thị trường tiêu thụ sản phẩm và hỗ trợ về khen thưởng.
Với sự quan tâm sâu sát của các cấp chính quyền, làng nghề CN-TTCN tỉnh Thanh Hóa vừa qua đã đạt được một số kết quả khá, cụ thể:
Theo UBND tỉnh, đến nay, toàn tỉnh Thanh Hóa có 118 làng nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp (TTCN), trong đó có 87 làng nghề truyền thống và 31 làng nghề mới, góp phần tạo việc làm cho hàng nghìn lao động khu vực nông thôn. Hiện có 2 nhóm làng nghề hoạt động tốt là nhóm làng nghề chế biến nông, lâm, thủy sản, thực phẩm và nhóm làng nghề sản xuất hàng tiểu thủ công nghiệp
Toàn tỉnh có khoảng hơn 60.000 cơ sở sản xuất TTCN, chủ yếu là hợp tác xã, tổ hợp tác và hộ gia đình, trên 150.000 lao động thường xuyên và hàng chục nghìn lao động tham gia sản xuất khi thời vụ nông nhàn. Giá trị sản xuất TTCN và ngành nghề khu vực nông thôn đạt trên 4.000 đến 4.500 tỷ đồng/năm, chiếm tỷ trọng trên 30% giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh; thu nhập bình quân 3- 4 triệu đồng/người/tháng.
Phát triển làng nghề CN-TTCN trên địa bàn tỉnh góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn; chuyển dịch cơ cấu lao động, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cải thiện đời sống người lao động; bảo tồn các giá trị truyền thống, những bản sắc văn hóa của địa phương; góp phần xây dựng nông thôn mới.

Tồn tại, khó khăn trong phát triển làng nghề CN-TTCN vừa qua

Bên cạnh những kết quả đạt được nói trên, làng nghề CN-TTCN của tỉnh Thanh hóa cũng còn những tồn tại, khó khăn như sau:
Hiện nay, nhiều làng nghề truyền thống ở Thanh Hóa đang hoạt động chật vật, hoặc đứng trước nguy cơ mai một, bởi các sản phẩm không còn đất sống trước sự cạnh tranh khốc liệt với các sản phẩm công nghiệp hiện đại khác trên thị trường.
Các cơ sở sản xuất của các làng nghề chủ yếu có quy mô nhỏ, siêu nhỏ dưới mô hình hộ gia đình, vốn đầu tư thấp, kỹ thuật và công nghệ sản xuất lạc hậu và thiếu đồng bộ. Sản phẩm của các làng nghề đa phần chất lượng chưa cao, mẫu mã đơn giản, giá thành thấp. Thị trường tiêu thụ còn hạn chế, chưa tạo được thương hiệu cho sản phẩm. Lao động phần lớn là thủ công, tỷ lệ qua đào tạo còn thấp, thu nhập thấp, không thu hút được nhân lực. Cơ chế chính sách khuyến khích phát triển các làng nghề tiểu thủ công nghiệp có, song nguồn lực đầu tư còn rất khiêm tốn. Cơ sở hạ tầng về giao thông, điện, nước thời gian qua có đầu tư cải thiện nhưng chủ yếu phục vụ sinh hoạt người dân nên cũng hạn chế phát triển làng nghề TTCN, nhiều nơi sản xuất còn xen lẫn trong dân cư nên dễ gây ô nhiễm môi trường;…
Để phát triển các làng nghề CN-TTCN, thời gian tới tỉnh Thanh Hóa cần triển khai thực hiện một số giải pháp sau: Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả các cơ chế chính sách của Trung ương và tỉnh đã ban hành có hiệu quả;Đào tạo nguồn lao động cho các làng nghề CN-TTCN, gắn việc đào tạo nghề với nhu cầu sản xuất thực tiễn. Khuyến khích mời các nghệ nhân trong và ngoài tỉnh kèm cặp, bồi dưỡng truyền nghề cho lực lượng lao động trẻ thông qua các lớp đào tạo, hội thảo trao đổi kinh nghiệm; Khuyến khích mọi thành phần kinh tế, các doanh nghiệp tham gia sản xuất, kinh doanh ngành nghề nông thôn. Khuyến khích thành lập và tạo điều kiện để các hiệp hội doanh nghiệp ngành hàng, hiệp hội bán buôn, bán lẻ, siêu thị hoạt động hiệu quả; Đẩy mạnh áp dụng, chuyển giao khoa học công nghệ để nâng cao chất lượng nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất kinh doanh. Tăng cường công tác khuyến công, phát triển làng nghề CN-TTCN gắn với bảo vệ môi trường để phát triển bền vững;  Hỗ trợ và tạo điều kiện cho các làng nghề, cơ sở sản xuất tham gia hội chợ triển lãm, giới thiệu sản phẩm ở trong nước và ngoài nước. Đăng ký thương hiệu, mẫu mã, chất lượng sản phẩm,…


                                Nguyễn Thị Hương